Báo cáo Hiệu quả và Độ an toàn của Picosecond Laser điều trị sẹo mụn

Hiệu quả và Độ an toàn của tái tạo bề mặt da với Picosecond laser năng lượng cao 1064 Nd:YAG trong điều trị sẹo mụn ở da người Châu Á.

Ying – Xiu Dai,1,2 Ying – Yen Chuang,3 Po – Yu Chen,1 và Chih – Chiang Chen 1,2,4

1Khoa da liễu, Bệnh viện Đa khoa Cựu chiến binh Đài Loan, Đài Bắc 11221, Đài Loan

2Khoa da liễu, Trường Y, Đại học Quốc gia Yang – Ming, Đài Bắc 11221, Đài Loan

3Phòng khám Da liễu DRX, Thành phố Tân Đài Bắc 24147, Đài Loan

4Viện Y học Lâm sàng, Đại học Quốc gia Yang – Ming, Đài Bắc 11221, Đài Loan

Mục tiêu: Có một vài nghiên cứu liên quan đến sử dụng picosecond laser trong sẹo mụn ở người Châu Á. Những nghiên cứu có triển vọng này đánh giá hiệu quả và độ an toàn của laser picosecond năng lượng cao 1064 Nd:YAG cho xâm lấn và tái tạo bề mặt trong điều trị sẹo mụn ở người Châu Á.

Phương pháp: Đối tượng được điều trị với picosecond laser 1064 nm (spot 8 mm, 0.7 – 1.0 J/cm2, 5 Hz) với 3 buổi cách nhau 4 tuần. Hai chuyên gia da liễu không tham gia điều trị đánh giá trước và sau 3 tháng điều trị với thang điểm cải thiện 10. Cảm giác đau, sự cải thiện tổng thể và sự hài lòng của đối tượng điều trị cũng được đánh giá. Bảng câu hỏi Chất lượng cuộc sống của sẹo mụn trên khuôn mặt (FASQoL) được sử dụng để đánh giá cuộc sống của các đối tượng.

Kết quả: 20 đối tượng ở độ tuổi 18 – 50 tuổi với loại da Fitzpatrick III – IV đã đăng ký tham gia. Điểm cải thiện được bác sĩ da liễu trung bình đánh giá là 3 trên 10. Các đối tượng hài lòng đến rất hài lòng với sự cải thiện tổng thể. Chất lượng cuộc sống của các đối tượng cải thiện đáng kể với điểm FASQoL trung bình của 10 sau khi điều trị so với 21  trước khi điều trị (P < 0.001). Các tác dụng phụ chỉ giới hạn trong ban đỏ, phù nề và đau mà không có tăng sắc tố sau viêm.

Kết luận: Laser picosecond 1064 nm với thông số tái tạo bề mặt xâm lấn an toàn và hiệu quả trong điều trị sẹo mụn ở người Châu Á. Laser Surg. Med. © 2019 Wiley Periodicals, Inc.

Key words: sẹo mụn, điều trị da liễu; fractionated; picosecond laser.


GIỚI THIỆU

Mụn trứng cá là bệnh lý da thường gặp có thể dẫn đến để lại sẹo vĩnh viễn [1 – 3]. Mụn trứng cá làm giảm sút đáng kể chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và được mô tả như là một yếu tố nguy cơ dẫn đến trầm cảm, tự tử, kết quả học tập thấp và thất nghiệp [4 – 5]. Chăm sóc sẹo mụn phụ thuộc vào loại sẹo mụn và hạn chế của phương thức điều trị [6]. Phương thức điều trị hiện tại bao gồm peel da hóa học, mài mòn da, tiêm, filter, platelet-rich plasma, laser xâm lấn, laser fractional/không xâm lấn và cắt bỏ sẹo [7 – 14]. Mặc dù nhiều phương thức điều trị có sẵn nhưng chăm sóc sẹo mụn vẫn là thử thách. Laser picosecond 755 nm Alexandrite với mảng thấu kính nhiễu xạ đã được chứng minh lâm sàng hiệu quả trong cải thiện sẹo mụn trên mặt [15, 16]. Tuy nhiên, laser picosecond năng lượng cao 1064 nm Nd:YAG xâm lấn và tái tạo bề mặt sẹo mụn vẫn chưa được nghiên cứu. Trong nghiên cứu này, chúng tôi kiểm tra hiệu quả và độ an toàn của laser fractionated 1064 nm Nd:YAG mới với năng lượng cao trong điều trị sẹo mụn ở người Châu Á.

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

Đối tượng

Bệnh nhân có độ tuổi 18 – 50 tuổi với loại da Fitzpatrick III – IV có sẹo mụn được chọn. Loại da Fitzpatrick được xác định bởi nhà nghiên cứu dựa trên bảng câu hỏi tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng và đánh giá của nhà nghiên cứu. Ngoài ra, các đối tượng được yêu cầu có sẹo mụn trên mặt và mặt khác có sức khỏe tốt không mang thai, không trong thời gian cho con bú, tiền sử ung thư da, sẹo lồi, nhiễm trùng, rối loạn suy giảm miễn dịch và quá mẫn cảm với ánh sáng hoặc dùng thuốc quang độc tính. Các bệnh nhân nhận được liệu trình tái tạo bề mặt như là điều trị laser hoặc peel da hóa học trong vòng 6 tháng trước cũng bị loại trừ. Nghiên cứu này được chấp thuận bởi hội đồng xét duyệt của Bệnh viện Đa khoa Cựu chiến binh Đài Bắc (2008 – 02 – 004A) và đã được đồng ý từ các đối tượng.

Điều trị laser

Laser picosecond, 1064/532 nm Nd:YAG được sử dụng cho tất cả điều trị. Thiết bị được trang bị với tay cầm chuyên dụng có mảng thấu kính siêu nhỏ (MLA), tia laser fractionates gồm 66 điểm trong kích thước 8 mm (Hình 1a). Hệ thống laser truyền mức độ năng lượng có thể điều chỉnh từ 0.05 đến 1.4 J/cm2. Mức độ năng lượng được tính toán trong khoảng 0.45 đến 12.7 mJ cho mỗi vi điểm. Với tỉ lệ tán xạ thấp, MLA có thể truyền 90% năng lượng được cài đặt ở các vùng mật độ năng lượng cao, chiếm 5% tổng số điểm điều trị. Trước khi điều trị, mỗi sẹo mụn trong khu vực điều trị được đánh dấu và chụp hình lại. Kem bôi tê tại chỗ (EMLA®; AstraZeneca, Wilmington, DE) được sử dụng trước 40 phút để hấp thụ. Với spot size 8 mm, mật độ năng lượng 0.7 – 1.0 J/cm2, tỉ lệ lặp 5 Hz và 2 pass, laser picosecond 1064 nm với MLA được sử dụng cho toàn bộ sẹo mụn trên mặt, bao gồm sẹo rolling, boxcar và icepick. Gấp đôi pass laser được thực hiện tuần tự theo hàng, tương ứng gần 10% bề mặt điều trị. Tổng xung từ 1200 – 1600 xung được thực hiện cho mỗi buổi điều trị dựa trên kinh nghiệm phản ứng giữa laser và mô. Ban đỏ và chảy ít máu ngay lập tức, dấu hiệu của xâm lấn biểu bì là endpoint mong muốn. Tất cả đối tượng được nhận 3 buổi điều trị cách nhau 4 tuần.

pico-laser-fractional

Đánh giá hiệu quả

Chụp hình 2D (Nikon D640) được thực hiện trước buổi điều trị laser đầu tiên và buổi điều trị cuối cùng sau 3 tháng. Ảnh chụp được chỉnh độ sáng và chỗ ngồi chụp tiêu chuẩn. Để tránh đánh giá sai lệch, 2 chuyên gia da liễu không tham gia điều trị đánh giá ảnh theo cặp trước và sau 3 tháng điều trị được xếp ngẫu nhiên vào bảng bên trái và bên phải. Đối với mỗi đối tượng, cải thiện khối lượng, cấu trúc và diện mạo tổng thể của vùng điều trị được đánh giá với ảnh trước và sau. Người đánh giá được yêu cầu nhận định hình ảnh nào là ảnh trước khi điều trị và sau đó đánh giá mức độ cải thiện bằng cách sử dụng thang điểm 10 cải thiện thẩm mỹ tổng thể (1 = 10%, 2 = 20%, 3 = 30% cải thiện cho đến 10 = tối đa). Trong trường hợp người đánh giá nhận dạng sai ảnh trước điều trị, đánh giá của đối tượng là điểm âm.

Vào 1 và 3 tháng sau buổi điều trị cuối, đối tượng được yêu cầu đánh giá sự cải thiện diện mạo tổng thể dựa trên thang điểm 10 (1 = 10%, 2 = 20%, 3 = 30% cải thiện cho đến 10 = tối đa). Các đối tượng cũng đánh giá mức độ hài lòng với sự cải thiện trong diện mạo và cấu trúc tổng thể dựa trên thang điểm 5 Likert (-2 = rất thất vọng, -1 = thất vọng, 0 = không ý kiến, 1 = hài lòng, 2 = rất hài lòng) vào 1 và 3 tháng sau buổi điều trị cuối. Đánh giá tác động của điều trị đối với chất lượng cuộc sống, các đối tượng được yêu cầu hoàn thành bảng câu hỏi Chất lượng cuộc sống sẹo mụn trên mặt (FASQoL) trước buổi điều trị đầu tiên và 3 tháng sau buổi điều trị cuối. FASQoL là một công cụ 10 hạng mục với ba lĩnh vực đánh giá tác động của vết sẹo đối với cảm xúc, hoạt động xã hội và công việc/học tập trên thang đánh giá 5 điểm với khoảng thời gian 7 ngày trước (0 = hoàn toàn không, 1 – một ít, 2 = một phần, 3 = rất nhiều, 4 cực kỳ) [17].

Đánh giá độ an toàn

Các đối tượng đánh giá sự không thoải mái của họ sau mỗi buổi điều trị sử dụng thang điểm đánh giá mức độ đau của Wong – Baker (0 = không thoải mái; 10 = hoàn toàn không đau). Các đối tượng được yêu cầu ghi lại tác động sau điều trị bao gồm ban đỏ, phù nề, tróc da, đốm xuất huyết và phồng rộp. Vào 3 tháng sau buổi điều trị cuối, 2 chuyên gia da liễu không tham gia điều trị đánh giá độc lập tình trạng giảm sắc tố, tăng sắc tố và sẹo.

Nghiên cứu In Vivo

Nghiên cứu in vivo được thực hiện trên một đối tượng đàn ông trước phẫu thuật cắt bỏ sẹo hộp sâu mà điều này không mang lại nhiều lợi ích từ việc điều trị bằng laser. Bệnh nhân được điều trị laser 30 phút trước khi phẫu thuật cắt bỏ.

Phân tích thống kê

Thống kê mô tả được cung cấp để tóm tắt dữ liệu. So sánh các nhóm khác nhau được thực hiện sử dụng bảng kiểm định dấu hạng Wilcoxon và bảng kiểm định Kruskal – Wallis. Hệ số tương quan thứ hạng

Spearman được tính theo tuổi, điểm cải thiện và điểm hài lòng. P hai mặt < 0.05 được coi là có ý nghĩa thống kê. Dữ liệu phân tích được thực hiện với phần mềm SPSS phiên bản 22.0 (IBM, Armonk, NY).

KẾT QUẢ

Tổng thể, 20 đối tượng (13 nam và 7 nữ, tuổi từ 21 – 39 tuổi, trung bình 28 tuổi) với loại da Fitzpatrick III – V đã đăng ký tham gia và tất cả họ đã hoàn thành nghiên cứu. Hầu hết các đối tượng có một vài loại sẹo tổng hợp và được phân loại thành ba nhóm: sẹo rolling – boxcar hay icepick (Bảng 1).

Đánh giá hiệu quả bởi các chuyên gia

Với 40 ảnh (của 20 đối tượng được đánh giá bởi 2 chuyên gia), những chuyên gia không tham gia điều trị đã xác định đúng 33 (82.5%) bức ảnh cơ bản (Bảng 2). Những chuyên gia này đánh giá mức cải thiện trung bình với điểm 3 (khoảng từ -7 đến 8) cho tất cả đối tượng. Sau điểm trung bình từ 2 chuyên gia, 17 trong số 20 (85%) đối tượng cho thấy một số mức độ cải thiện và 9 (45%) đối tượng có điểm cải thiện ít nhất là 3 (≥ 30%). Trong số 15 đối tượng có ảnh ban đầu được xác định chính xác bởi 2 chuyên gia, điểm cải thiện trung bình là 4.5 (khoảng 3 – 8). Các đối tượng với sẹo rolling chiếm ưu thế đáp ứng tốt hơn các đối tượng có sẹo boxcar hay icepick, với điểm cải thiện trung bình là 4.5 (4.08 [-2 đến 8]), 4 (2.39 [-7 đến 8]) và 2 (0.1 [-6 đến 3]) theo thứ tự cho sẹo rolling, boxcar và icepick (Hình 2). Điểm cải thiện được đánh giá bởi chuyên gia da liễu không liên quan đáng kể tới tuổi tác, giới tính hay loại da (Hình 1b – c).

Đánh giá hiệu của bởi các đối tượng

Đối tượng đánh giá điểm cải thiện trung bình là 6.5 vào 1 tháng sau buổi điều trị cuối. Sự cải thiện hơn được báo cáo vào 3 tháng sau với điểm trung bình là 8 so với điểm cải thiện thẩm mỹ toàn bộ (P = 0.004). Các đối tượng báo cáo đánh giá sự hài lòng cao với kết quả điều trị. Tổng thể, 55% và 25% đối tượng hài lòng và rất hài lòng với kết quả của họ sau 1 tháng. Các đối tượng duy trì sự hài lòng sau 3 tháng, với 55% và 40% theo thứ tự hài lòng và rất hài lòng với kết quả điều trị. Có một mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa điểm cải thiện được đánh giá của đối tượng và điểm hài lòng (xếp hạng Spearman ρ = 0.653, P = 0.002). Bảng câu hỏi FASQoL cho thấy sự cải thiện đáng kể trong chất lượng cuộc sống sau khi điều trị laser ([khoảng] trung bình: 21 [4 – 40] trước khi điều trị với 10 [0 – 24] sau điều trị, P < 0.001).

Độ an toàn

Các đối tượng báo cáo điểm đau trung bình là 6 (khoảng 2 – 9). Đáp ứng sau điều trị ngay lập tức là ban đỏ nhẹ đến trung bình, phù nề, tróc da, chấm xuất huyết và phồng rộp. Tất cả đáp ứng sau điều trị sẽ hết trong vòng 10 ngày với phù nề sẽ hết trong vòng vài giờ sau điều trị, và ban đỏ, tróc da và chấm xuất huyết sẽ hết vài ngày sau điều trị. Thời gian nghỉ dưỡng trong khoảng từ 1 đến 10 ngày, với trung bình là 4 ngày. Các đối tượng báo cáo không có rối loạn sắc tố, rỉ máu và đóng vảy sau 1 tuần, 1 tháng và 3 tháng sau điều trị. Không có tác dụng phụ xuất hiện trong suốt nghiên cứu.

Phát hiện mô học

Mô học ngay sau điều trị cho thấy sự xâm lấn biểu bì và các không bào bên trong biểu bì được xác định rõ (Hình 1d – g). Các tế bào sừng hoại tử thoái hóa được nhìn thấy xung quanh không bào.

THẢO LUẬN

Nghiên cứu có triển vọng này chứng minh rằng laser picosecond 1064 nm năng lượng cao với MLA là phương thức điều trị an toàn và hiệu quả cho sẹo mụn ở người Châu Á. Theo đánh giá bởi 2 chuyên gia không tham gia điều trị, sự cải thiện được quan sát là trong 85% bệnh nhân với điểm cải thiện trung bình là 3 sau 3 buổi điều trị. Sự hài lòng của các đối tượng cao với 19 trong số 20 đối tượng hài lòng hoặc rất hài lòng với kết quả thẩm mỹ của họ. Sự cải thiện đáng kể trong chất lượng đời sống bệnh nhân cũng được nhìn thấy. Không có rối loạn sắc tố, ban đỏ, phù nề kéo dài, nổi mụn trứng cá, hình thành mụn thịt, sẹo phì đại và chậm lành vết thương sau khi điều trị.

Với MLA, mật độ năng lượng cao truyền năng lượng chỉ 5% trong khu vực điều trị trong 1 pass. Về mặt lý thuyết, hiệu quả có thể tăng bởi việc tăng số pass hoặc số buổi điều trị. Trong nghiên cứu của chúng tôi, 1200 – 1600 xung laser dường như không thỏa đáng cho điều trị toàn bộ khuôn mặt so với các nghiên cứu khác sử dụng thiết bị laser khác [18, 19]. Trong nghiên cứu của Haimovic et al., sử dụng laser picosecond 755 nm Alexandrite (PicoSure®; Cynosure Inc., Westford, MA) 3000 – 7000 xung được phân phối trong 2 – 4 pass cho toàn bộ khuôn mặt ở 56 bệnh nhân với loại da tối màu [16]. Tuy nhiên, liên quan đến spot size tròn lớn 8 mm và mật độ năng lượng cao 0.7 – 1.0 J/cm2 của thiết bị mà chúng tôi sử dụng, số xung laser nhỏ hơn so với nghiên cứu Haimovic et al., 6 đối tượng xuất hiện tình trạng tăng sắc tố sau viêm (PIH) mà không thấy trong nghiên cứu của chúng tôi. Dierickx đề nghị rằng xung điều trị không mang lại lợi ích bổ sung cho sẹo mụn [18]. Trái lại, Huang et al. cho thấy số buổi điều trị liên quan tích cực với sự cải thiện lâm sàng [19]. Vì vậy, nghiên cứu sau đó cần xác định số xung laser và số buổi điều trị thích hợp trong điều trị sẹo mụn.

Trong khi các thang điểm phân loại tồn tại đối với sẹo mụn trứng cá, không có sự đồng thuận nào về công cụ đánh giá sẹo được lựa chọn cho một tình trạng nhất định [20]. Vì vậy, rất khó so sánh kết quả của các nghiên cứu khác nhau. Hiệu quả của điều trị laser được đánh giá dựa trên bảng điểm cải thiện điểm 10 trong nghiên cứu của chúng tôi, trong thang 4 điểm hoặc thang 5 điểm được sử dụng trong những nghiên cứu khác [15, 19]. So với điểm cải thiện trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 3 trên 10 điểm, nghiên cứu của Bernstein et al. chứng minh điểm cải thiện trung bình là 1.4 (khoảng 4 – 6; 95% CI: 0.85 – 1.9) vào 3 tháng sau điều trị 4 buổi hàng tháng với laser picosecond 1064 và 532 nm (PicoWay®; Syneron – Candela Inc., Wayland, MA). Hệ thống sử dụng trong nghiên cứu của Berstein et al. [21] cũng sử dụng tay cầm fractionated với mức năng lượng được truyền là 1.3 đến 2.9 mJ mỗi microbeam. Năng lượng laser được sử dụng trong nghiên cứu của chúng tôi ít nhất cao hơn gấp 3 lần, và kết quả điều trị tốt hơn mà không có PIH được nhìn thấy.

Các nghiên cứu trước đó của thiết bị picosecond fractional chứng minh hình thành hiệu ứng LIOB hình thành từ laser [22, 23]. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy sự phá hủy quang học và xâm lấn biểu bì được sinh ra bởi laser picosecond 1064 nm. Theo kiến thức tốt nhất của chúng tôi, chỉ có một nghiên cứu báo cáo xâm lấn vi mô của lớp biểu bì sau khi phát xạ [24]. Điều này rất có thể là do mật độ được sử dụng để điều trị. Năng lượng mỗi microbeam được sử dụng trong nghiên cứu của chúng tôi là 5.3 – 9.1 J mỗi microbeam, trong khi những nghiên cứu khác là 1.3 – 2.9 J mỗi microbeam [21]. Sử dụng laser picosecond Alexandrite fractional, Brauer et al. [15] cho thấy không bào trong biểu bì có liên quan đến sự gia tăng collagen ở da, mô đàn hồi và mucin. Trong nghiên cứu của Guida et al. [25], sử dụng cũng laser picosecond 1064 nm của chúng tôi, kính hiển vi tiêu điểm phản xạ cho thấy các sợi collagen dạng lưới được sắp xếp trong một mạng lưới, tăng hình thành collagen sau khi điều trị laser. Tuy nhiên, nghiên cứu sau cần làm sáng tỏ cơ chế cải thiện lâm sàng cơ bản trong sẹo mụn từ điều trị.

Người Châu Á có sự hoạt động của melanocytic cao; vì vậy, họ có nguy cơ PIH đáng kể sau laser xâm lấn, như là erbium: yttrium – aluminum – garnet hoặc laser carbon dioxide (CO2) [26 – 29]. Mặc dù laser CO2 xâm lấn không fractionated đạt hiệu quả cao trong điều trị sẹo mụn, nhưng nó có thể gây ra rối loạn sắc tố kéo dài và thời gian nghỉ dưỡng lâu. Laser CO2 fractionated giảm đáng kể thời gian nghỉ dưỡng nhưng hiệu quả kém hơn. Mặc dù laser không xâm lấn, fractionated được chứng minh an toàn hơn laser CO2 nhưng hiệu quả của chúng trong điều trị sẹo mụn không tối ưu [30]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, thời gian nghỉ dưỡng lâu hơn và độ đau hơn trong suốt liệu trình có thể liên quan đến xâm lấn biểu bì bởi mật độ năng lượng cao. Tuy nhiên, laser picosecond 1064 nm này cải thiện đáng kể trong sẹo mụn với nguy cơ PIH thấp, đề xuất những lợi thế tiềm năng của thiết bị này so với laser fractionated xâm lấn và không xâm lấn trong điều trị sẹo mụn ở da tối màu.

Tỉ lệ mắc PIH thấp trong nghiên cứu này có thể được giải thích bởi công nghệ MLA của thiết bị này. Tay cầm MLA truyền laser trong một mảng hẹp, tập trung microbeam độ chính xác cao để tạo hiệu ứng nhiệt/plasma ở cả 2 lớp biểu bì và hạ bì. Khi laser được truyền với mật độ năng lượng cao, sự hình thành plasma xảy ra trước khi photons chạm đến lớp hạ bì [31]. Sự ion hóa nhiều photon rạo ra vô số điện tử, do đó dẫn đến sự phá vỡ biểu bì. Mô xung quanh có giới hạn thiệt hại song song trong miền picoseond để đảm bảo lành thương nhanh chóng và giảm thiểu tác dụng phụ, đang giải thích nguy cơ PIH thấp [22, 32].

Giới hạn của nghiên cứu này bao gồm kích thước mẫu nhỏ, đánh giá hiệu quả dựa trên ảnh 2D, chu kỳ chỉ 3 tháng sau điều trị và thiếu nhóm so sánh. Sử dụng ảnh 2D có thể không nắm bắt được những thay đổi nhỏ trong sẹo mụn. Vì vậy, điều này có thể giải thích sự khác biệt giữa đánh giá của chuyên gia da liễu và tự đánh giá của các đối tượng. Bởi vì mô sẹo hình thành hơn nhiều tháng, sự cải thiện hơn nữa có thể xảy ra trong giai đoạn sau đó lâu hơn nữa. Cuối cùng, mặc dù nhiều công cụ có sẵn để đánh giá mức độ nghiêm trọng của sẹo mụn, sự thiếu hụt trong đồng nhất liên quan đến đánh giá sẹo mụn tạo ra sự khó khăn trong so sánh kết quả của chúng tôi với những nghiên cứu khác [33].

Đây là bài báo đầu tiên nghiên cứu hiệu quả và độ an toàn của laser picosecond với MLA linh hoạt trong điều trị sẹo mụn ở người Châu Á. Kết luận, laser picosecond 1064 nm với năng lượng cao là phương thức điều trị an toàn và hiệu quả cho sẹo mụn trên mặt ở người Châu Á. Kết quả lâm sàng tích cực và cấu hình an toàn đề xuất rằng laser miền picosecond là sự lựa chọn điều trị đầy hứa hẹn cho sẹo mụn trên mặt.

Hiệu quả điều trị sẹo mụn bằng Picosecond laser
Hiệu quả điều trị sẹo mụn bằng Picosecond laser

SỰ NHÌN NHẬN

Nghiên cứu này được tài trợ bởi Bộ Khoa học và Công nghệ, được hoàn vốn theo Grant (MOST 107 – 2314 – B – 075 – 032 – MY3 – 1).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Dai Y – X, Chen T – J, Chang Y – T. Dịch vụ chăm sóc da và bệnh phổ biến ở Đài Loan: Một nghiên cứu trên toàn quốc. Dermatol Sin 2018; 36 (3): 124 – 130.
  2. Lim HW, Collins SAB, Resneck JS, Jr., và cộng sự. Gánh nặng của bệnh da ở Hoa Kỳ. J Am Acad Dermatol 2017; 76 (5): 958 – 972.e2.
  3. Kumar B, Pathak R, Mary PB, Jha D, Sardana K, Gautam HK. Những hiểu biết mới về cơ chế bệnh sinh của mụn trứng cá: Khám phá vai trò của các quần thể vi sinh vật liên quan đến mụn trứng cá. Dermatol Sin 2016; 34 (2): 67 – 73.
  4. Duman H, Topal IO, Kocaturk E, Duman MA. Đánh giá mức độ lo lắng, trầm cảm và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân mắc bệnh an cung, và chất lượng cuộc sống trong gia đình họ. Dermatol Sin 2016; 34 (1): 6 – 9.
  5. Gao Y, Wei EK, Arron ST, Linos E, Margolis DJ, Mansh MD. Mụn trứng cá, khuynh hướng tình dục và sức khỏe tâm thần ở thanh niên ở Hoa Kỳ: Một nghiên cứu cắt ngang, dựa trên dân số. J Am Acad Dermatol 2017; 77 (5): 971 – 973.
  6. Thiboutot DM, Dréno B, Abanmi A, et al. Quản lý thực tế mụn trứng cá cho các bác sĩ lâm sàng: Một sự đồng thuận toàn cầu từ liên minh toàn cầu để cải thiện kết quả một cách nhanh chóng. J Am Acad Dermatol 2018; 78 (2S1): S1 – S23.e1.
  7. Bhargava S, Cunha PR, Lee J, Kroumpouzos G. Quản lý sẹo sau này: Xem xét và đánh giá có hệ thống các bằng chứng. Am J Clin Dermatol 2018; 19 (4): 459 – 477.
  8. Zaenglein AL, Pathy AL, Schlosser BJ, et al. Hướng dẫn chăm sóc để kiểm soát mụn trứng cá. J Am Acad Dermatol 2016; 74 (5): 945 – 973.e33.
  9. Lee KC, Wambier CG, Soon SL, et al. Lột da quốc tế S. Lột da hóa học cơ bản – lột da bề mặt và lột da trung bình. J Am Acad Dermatol 2018.
  10. Alam M, Tung R. Kỹ thuật tiêm trong chất làm đầy và độc tố thần kinh: Chỉ định, sản phẩm và kết quả. J Am Acad Dermatol 2018; 79 (3): 423 – 435.
  11. Cohen BE, Elburuk N. Microneedling in skin color: Đánh giá về công dụng và hiệu quả. J Am Acad Dermatol 2016; 74 (2): 348 – 355.
  12. Rivera AE. Sẹo mụn: Đánh giá và các phương thức điều trị hiện tại. J Am Acad Dermatol 2008; 59 (4): 659 – 676.
  13. Lan T, Xiao Y, Tang L, Hamblin MR, Yin R. Điều trị sẹo mụn teo bằng tần số vô tuyến vi mô phân đoạn ở bệnh nhân Trung Quốc: Một nghiên cứu tiền cứu. Lasers Phẫu thuật Med 2018; 50 (8): 844 – 850.
  14. Min S, Yoon JY, Park SY. Moon J, Kwon HH, Suh DH. Kết hợp huyết tương giàu tiểu cầu trong điều trị bằng laser carbon dioxide phân đoạn làm tăng hiệu quả lâm sàng đối với sẹo mụn bằng cách tăng cường sản xuất collagen và điều chỉnh quá trình viêm do laser gây ra. Lasers Phẫu thuật Med 2018; 50 (4): 302 – 310.
  15. Brauer JA, Kazlouskaya V, Alabdurazzaq H, et al. Sử dụng tia laser thời gian xung picosec giây với quang học chuyên dụng để điều trị sẹo mụn trứng cá trên khuôn mặt. JAMA Dermatol 2015; 151 (3): 278 – 284.
  16. Haimovic A, Brauer JA, Cindy Bae YS, Geronemus RG. Tính an toàn của tia laser pico giây với mảng thấu kính nhiễu xạ (DLA) trong điều trị các loại da Fitzpatrick IV đến VI: Đánh giá hồi cứu. J Am Acad Dermatol 2016; 74 (5): 931 – 936.
  17. Brown BC, McKenna SP, Siddhi K, McGrouther DA, Bayat A. Chi phí ẩn của sẹo da: Chất lượng cuộc sống sau khi da bị sẹo. J Plastic Reconstr Aesth phẫu thuật năm 2008; 61 (9): 1049 – 1058.
  18. Dierickx C. Sử dụng vùng phủ sóng bình thường và xung cao với laser picosecond điều trị nếp nhăn và sẹo mụn: Quan sát lâm sàng lâu dài. Lasers Phẫu thuật Med 2018; 50 (1): 51 – 55.
  19. Huang CH, Chern E, Peng JH, Hsien – Li Peng P. Điều trị sẹo mụn teo không xâm lấn ở người châu Á bằng laser picosec giây 755 nm sử dụng thấu kính quang học nhiễu xạ – Một đánh giá ảnh hồi cứu. Phẫu thuật Dermatol 2019; 45 (2): 195 – 202.
  20. Clark AK, Saric S, Sivamani RK. Sẹo mụn trứng cá: Làm thế nào để chúng tôi phân loại chúng? Am J Clin Dermatol 2018; 19 (2): 139 – 144.
  21. Berstein EF, Schomacker KT, Basilavecchio LD, Plugis JM, Bhawwalkar JD. Điều trị sẹo mụn bằng laser picosec giây phân đoạn mới, bước sóng kép kết hợp chùm tia ba chiều mới lạ. Lasers Phẫu thuật Med 2017; 49 (9): 796 – 802.
  22. Habbema L, Verhagen R, Van Hal R, Liu Y, Varghese B. Công nghệ laser không nhiệt xâm lấn tối thiểu sử dụng tia laser phân hủy quang học để trẻ hóa da. J Biophoton 2012; 5 (2): 194 – 199.
  23. Habbema L, Verhagen R, Van Hal R, Liu Y, Varghese B. Hiệu quả của công nghệ phá vỡ quang học cảm ứng bằng laser không xâm lấn tối thiểu để trẻ hóa da. Lasers Med Sci 2013; 28 (3): 935 – 940.
  24. Tanghetti Md E, Jenning J. Một nghiên cứu so sánh với laser Alexandrite pico giây 755 nm với mảng thấu kính nhiễu xạ và Nd: YAG 532 nm / 1064 nm với quang ba chiều. Lasers Phẫu thuật Med 2018; 50 (1): 37 – 44.
  25. Guida S, Bencini PL, Pellacani G. Picosecond laser để điều trị sẹo phẫu thuật teo: Theo dõi kết quả in vivo bằng kính hiển vi đồng tiêu phản xạ. J Eur Acad Dermatol Venereol 2019; 33 (3): e114 – e116.
  26. Chan HHL, Manstein D, Yu CS, Shek S, Kono T, Wei WI. Tỷ lệ phổ biến và các yếu tố nguy cơ của tăng sắc tố sau viêm sau khi tái tạo bề mặt từng phần ở người Châu Á. Lasers phẫu thuật Med 2007; 39 (5): 381 – 385.
  27. Chaowattanapanit S, Silpa – Archa N, Kohli I, Lim HW, Hamzavi I. Tăng sắc tố sau viêm: Tổng quan toàn diện: Các lựa chọn điều trị và phòng ngừa. J Am Acad Dermatol 2017; 77 (4): 607 – 621.
  28. Silpa – Archa N, Kohli I, Chaowattanapanit S, Lim HW, Hamzavi I. Tăng sắc tố sau viêm: Tổng quan toàn diện: Dịch tễ học, bệnh sinh, biểu hiện lâm sàng và kỹ thuật đánh giá không xâm lấn. J Am Acad Dermatol 2017; 77 (4): 591 – 605.
  29. Hsiao P – F, Lin Y – C, Huang C – C, Wu Y – H. Hiệu quả và độ an toàn của một lần điều trị duy nhất bằng cách sử dụng laser phân đoạn carbon dioxide 10.600 nm đối với các vết sẹo mụn teo từ nhẹ đến trung bình ở làn da Châu Á. Dermatol Sin 2013; 31 (2): 59 – 63.
  30. Grema H, Greve B, Raulin C. Nhịp điệu trên khuôn mặt – Bề mặt thay đổi hay tái tạo bề mặt? Đánh giá. Laser phẫu thuật Med 2003; 32 (5): 405 – 412.
  31. Oraevsky AA, Da Sliva LB, Rubenchik AM, et al. Cắt đốt qua trung gian plasma của các mô sinh học với xung laser nano giây – đến – femto giây: Vai trò tương đối của sự hấp thụ tuyến tính và phi tuyến tính. IEEE J Sel Điện tử lượng tử hàng đầu 1996; 2 (4): 801 – 809.
  32. Tanghetti EA. Mô học của da được điều trị bằng laser alexandrite pico giây và ống kính phân đoạn. Lasers phẫu thuật Med 2016; 48 (7): 646 – 652.
  33. Petukhova TA, Foolad N, Prakash N, et al. Phân loại thể tích khách quan của sẹo sau phẫu thuật. J Am Acad Dermatol 2016; 75 (1): 229 – 231.

 
Thông tin liên hệ AIC
Công ty TNHH Thiết bị thẩm mỹ AIC
39 Bàu Cát 3, P14, Tân Bình, TP.HCM
(028) 66851869
Contact.theaic@gmail.com

Trả lời

Contact Me on Zalo
0909002319
Copy Protected by Chetan's WP-Copyprotect.
Share via
Copy link
Powered by Social Snap